Amiang

01/01/2020

Ô nhiễm bụi Amiăng với sức khỏe con người và môi trường, chính sách của Nhà nước về dừng sử dụng amiăng và giải pháp kiểm soát

Amiăng được sử dụng làm :Tấm lợp, ván xây dựng, vật liệu cách nhiệt, vật liệu cách âm, ông nước, ống khói, phanh xe, gioăng,..Amiăng xâm nhập vào cơ thể và gây hại chủ yếu qua đường hô hấp, khi người lao động và người sử dụng hít phải bụi hô hấp có chứa bụi amiăng phát tán trong môi trường. Tác hại của Amiăng đến sức khoẻ người lao động và cộng đồng được biết đến là gây bệnh bụi phổi–Amiăng, ung thư phổi, ung thư trung biểu mô ác tính (màng phổi, màng bụng, màng tim), mảng màng phổi, tràn dịch và dày màng phổi, ung thư thực quản, buồng trứng.

GS.TS,Lê Vân Trình,

                                                                     Chủ tịch Hội KHKT ATVSLĐ Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách để loại bỏ và hạn chế bệnh do amiang gây nên.Cách hiệu quả nhất để kiểm soát và loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng là ngừng sử dụng tất cả các loại amiăng. Bởi vì hiện nay chúng ta đã có rất nhiều vật liệu thay thế tương đương và tốt hơn

1.     Amiang là gì

          Amiăng là tên được đặt cho sáu khoáng chất xuất hiện tự nhiên trong môi trường dưới dạng các bó sợi có thể được tách thành các sợi mỏng, bền để sử dụng trong các ứng dụng thương mại và công nghiệp.

Những sợi này có khả năng chịu nhiệt, lửa và hóa chất và không dẫn điện. Vì những lý do này, amiăng đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp.

Về mặt hóa học, khoáng chất amiăng là các hợp chất silicat, có nghĩa là chúng có chứa các nguyên tử silic và oxy trong cấu trúc phân tử của chúng.

          Khoáng sản amiăng được chia thành hai nhóm chính: nhóm Serpentine và

nhóm amphibole:

-         Nhóm Serpentine bao gồm amiăng trắng khoáng sản, có các sợi dài, xoăn có thể dệt được, trong nhóm có  amiăng Chrysotile là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong các ứng dụng thương mại và chúng ta thường gọi là Amiang trắng (công thức hóa học: Mg3(Si2O5)(OH)4 ).

-         Nhóm amphibole bao gồm các khoáng chất Actinolite, tremolite, anthophyllite, crocidolite,... Nhóm amiang amphibole có các sợi thẳng, giống như kim loại, giòn hơn so với amiăng serpentine và bị hạn chế hơn về khả năng chế tạo và người ta gọi là Amiang xanh, nâu ( Công thức hóa học: Ca2(Mg,Fe)5Si8O22(OH)2, Na2Fe32+Fe23+Si8O22(OH)2,, ...).

 

Sợi amiang là rất nhỏ,  ví dụ khi so sánh với sợi tóc:Đường kính trung bình sợi tóc là :59,4𝞵m, thì đường kính trung bình sợi amiang là : 0,025 𝞵m. Tức là sợi tóc to gấp hơn 2000 lần sợi amiang trắng ( đường kính trung bình hạt cát mịn là 90𝞵m, bụi mịn lơ lửng là 1,0-2,5 .). Vì thế khi con người hít phải nó sẽ đi thẳng vào màng phổi.      

 

a. amiang trắng                                                                              b. amiang xanh, nâu,...

Hình 1. Cấu trúc sợi amiang

          Amiang chủ yếu được sử dụng làm :Tấm lợp, ván xây dựng, vật liệu cách nhiệt, vật liệu cách âm, ông nước, ống khói, phanh xe, gioăng,...

          Amiăng xâm nhập vào cơ thể và gây hại chủ yếu qua đường hô hấp, khi người lao động và người sử dụng hít phải bụi hô hấp có chứa bụi amiăng phát tán trong môi trường. Các công việc phát sinh bụi chủ yếu trong quy trình sản xuất (xé bao, nghiền, trộn, khoan, nổ mìn…) hay trong sử dụng tại cộng đồng khi người dân khoan, cắt, phá dỡ đập các tấm lợp, vật liệu có chứa amiăng, sử dụng các vật liệu amiang để làm đường, đổ làm móng nhà…

          Ở nước ta, Bộ y tế đã ban hành qui chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02 : 2019/BYT, trong đó qui định, giá trị giới hạn tiếp xúc tối đa cho phép bụi amiăng tại nơi làm việc đối với amiang Serpentine (chrysotile: amiang trắng) là 0,1 sợi/ml không khí trong 1 ca làm việc và amiang Amphibole là 0 sơi/ml không khí.

 

2.     Ảnh hưởng của bụi Amiang đến sức khỏe

Mặc dù có nhiều công dụng , nhưng ngay từ những nền văn minh đầu người ta đã phỏng đoán rằng amiăng là nguyên nhân của các vấn đề phổi của những người làm việc trong các mỏ, nơi amiăng được khai thác hoặc những người kéo thành sợi và dệt nên vải amiăng. 

Đặc biệt, nhà triết học và nhà tự nhiên học La Mã Pliny the Elder, năm 79 trước CN đã lưu ý trong bài viết của mình về những người nô lệ khai thác amiăng bị mắc một căn bệnh ở phổi và qua đời ở tuổi trẻ.

Đến năm 1935 Vương Quốc Anh đã phát hiện ra các trường hợp ung thư phổi do A; Mỹ là năm 1960, Nhật Bản là 1973 (Sugio Furuya, Nhật Bản) và cũng bắt đầu từ đó loài người phải đương đầu với căn bệnh chết người liên quan đến amiang.

Triệu chứng  sớm và nhẹ của những người mắc bệnh bụi phổi asbestosis là khó thở khi gắng sức, kèm theo có ho kéo dài, có thể do co thắt phế quản,  khạc đờm. có tiếng rít ở hai bên phổi, từ cuối cho đến toàn thì hít vào, nghe rõ nhất ở vùng đáy phổi, phía sau và không mất khi ho. Nặng hơn,  bệnh sẽ tiến triển dẫn đến ung thư phổi.

Amiăng xâm nhập vào cơ thể và gây hại chủ yếu qua đường hô hấp, khi người lao động và người sử dụng hít phải bụi hô hấp có chứa bụi amiăng phát tán trong môi trường. Các công việc phát sinh bụi chủ yếu trong quy trình sản xuất (xé bao, nghiền, trộn, khoan, nổ mìn…) hay trong sử dụng tại cộng đồng khi người dân khoan, cắt, phá dỡ đập các tấm lợp, vật liệu có chứa amiăng, sử dụng các vật liệu amiang để làm đường, đổ làm móng nhà…

          Tất cả các loại amiang, kể cả Amiăng trắng (Chrysotile) được khẳng định là có hại cho sức khỏe. Sau 40 năm nghiên cứu, từ năm 1973 Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế thế giới đã có đủ bằng chứng trên người và thực nghiệm để xếp tất cả các loại Amiăng vào nhóm 1 là các chất gây ung thư ở người. Các bằng chứng là rõ ràng và tiếp tục được tích lũy, cập nhật. Tạp chí chuyên đề số 100C của IARC năm 2012 đã kết luận sau khi rà soát hàng trăm nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chí quốc tế như sau “mặc dù có sự khác biệt về mức độ độc hại trong các nghiên cứu của nhiều tác giả được công bố, nhưng kết luận chung là tất cả các loại Amiăng, bao gồm cả Amiăng trắng, đều gây ung thư” và “không có ngưỡng an toàn cho các chất gây ung thư”. Các nước Mỹ, Đức, Úc, Liên minh Châu Âu đều khẳng định tất cả các loại amiăng bao gồm cả amiăng trắng là chất gây ung thư ở người.

                  

          Tác hại của Amiăng đến sức khoẻ người lao động và môi trường cho cộng đồng được biết đến là gây bệnh bụi phổi–Amiăng, ung thư phổi, ung thư trung biểu mô ác tính (màng phổi, màng bụng, màng tim), mảng màng phổi, tràn dịch và dày màng phổi, ung thư thực quản, buồng trứng. Người tiếp xúc với amiang thường phát bệnh sau khi tiếp xúc rất lâu từ 20-30 năm nên thường đến khi người lao động nghỉ hưu mới mắc bệnh.

          Amiang là chất gây ung thư nghề nghiệp quan trọng nhất ước tính gây ra ½ số ca tử vong do ung thư nghề nghiệp trên thế giới. Gánh nặng bệnh tật toàn cầu do amiang là mỗi năm có hơn 100.000 người chết và hơn 1,5 triệu năm phải sống với khuyết tật. Số người chết do ung thư phổi là 41.000 người. Số người chết do ung thư trung biểu mô ác tính là 59.000 người. Amiăng là nguyên nhân của 80% các trường hợp bị ung thư trung biểu mô ác tính ở người. Số người chết do ung thư trung biểu mô ác tính ngày càng gia tăng ở các nước phát triển đã sử dụng nhiều Amiăng trong quá khứ.

 

3.     Phơi nhiễm với bụi Amiăng

          Phơi nhiễm với bụi amiăng xảy ra khi hít vào những sợi mảnh chủ yếu từ không khí bị ô nhiễm trong môi trường làm việc cũng như từ môi trường xung quanh trong vùng phụ cận của điểm nguồn hay không khí trong nhà có chứa các nguyên vật liệu có sợi amiăng. Mức độ phơi nhiễm bụi cao nhất xảy ra trong khi đóng gói lại các công cụ để chứa amiăng, trộn lẫn với các nguyên vật liệu thô khác và cắt khô các sản phẩm có chứa amiăng bằng các công cụ để mài mòn. Phơi nhiễm bụi cũng có thể xảy ra trong khi lắp đặt và sử dụng các sản phẩm có chứa amiăng và bảo trì xe cộ. Có hai dạng phơi nhiễm với Amiăng:

-         Phơi nhiễm phi nghề nghiệp:

          Phơi nhiễm bụi phi nghề nghiệp là phơi nhiễm xảy ra trong môi trường sống, có thể là do phơi nhiễm trong nhà có sử dụng các vật liệu chứa amiăng, không khí ô nhiễm bụi từ những ngành công nghiệp liên quan tới amiăng hoặc sử dụng các vật liệu mài mòn có chứa amiăng, hoặc các khoáng chất amiăng có trong tự nhiên. 

 

-         Phơi nhiễm nghề nghiệp

 

          Phơi nhiễm bụi nghề nghiệp là phơi nhiễm xảy ra khi hít trực tiếp những sợi amiăng từ không khí bị ô nhiễm trong môi trường làm việc. Mức độ phơi nhiễm cao nhất xảy ra trong khi đóng bao sợi amiăng; xé bao, nghiền, đánh tơi sợi amiăng trong quy trình sản xuất tấm lợp AC,…; nghiền, cắt khô các sản phẩm có chứa amiăng…. Phơi nhiễm cũng có thể xảy ra trong khi lắp đặt và sử dụng các sản phẩm có chứa amiăng và bảo trì xe cộ. Phơi nhiễm khí hít vào, và ở mức thấp hơn, nuốt vào xảy ra khi khai thác mỏ và nghiền amiăng (hoặc các khoáng chất khác bị nhiễm lẫn với amiăng), sản xuất hay sử dụng các sản phẩm có chứa amiăng, và các ngành công nghiệp xây dựng, ô tô và thải loại amiăng (kể cả việc vận chuyển và loại bỏ chất thải có chứa amiăng).

 

          Viện An toàn và sức khỏe nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) đã ước tính  năm 2002 có 44.000 thợ mỏ có thể đã bị phơi nhiễm amiăng trong khi khai thác mỏ amiăng và một số khoáng chất trong đó amiăng có thể đã là một chất gây ô nhiễm tiềm tàng. Năm 2008, Cơ quan An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (OSHA) ở Hoa Kỳ đã ước tính rằng có 1,3 triệu người lao động trong ngành xây dựng và công nghiệp chung phải đối mặt với việc phơi nhiễm amiăng đáng kể khi làm việc. Tại châu Âu, dựa trên việc phơi nhiễm nghề nghiệp đã biết và các chất gây ung thư nghi ngờ thu thập được trong các năm từ 1990-1993, cơ sở dữ liệu CAREX (CARcinogen EXposure) đã ước tính là có tổng số 1,2 triệu người lao động bị phơi nhiễm với amiăng trong 41 ngành công nghiệp ở các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.

Ở Việt Nam, bệnh bụi phổi Amiăng là một bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm từ 1976 và đã có 3 trường hợp được giám định và chi trả bồi thường. Đã có 150 trường hợp ung thư trung biểu mô được ghi nhận tại 9 trung tâm ghi nhận ung thư ở Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc chẩn đoán các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư trung biểu mô yêu cầu kỹ thuật cao về thiết bị và đội ngũ bác sỹ giỏi, hiện nay Việt Nam mới chỉ đáp ứng một phần. Số liệu liên quan đến tiếp xúc Amiăng tại các cơ sở sản xuất và trong khu dân cư gần nơi sản xuất tấm lợp, má phanh và các vật liệu bảo ôn, cách âm, cách nhiệt và các khu vực người dân sử dụng nhiều tấm lợp, cũng như thải bỏ, tiêu hủy hiện cũng chưa thống kê được.

 

      Hình 2. Đồ thị biểu diễn số người chết do các bệnh liên quan đến Amiang gây a trong vòng 28 năm ở một số nước

                  

          Việc cho đến nay ít phát hiện được bệnh bụi phổi do amiang gây ra, theo chúng tôi có thể do những nguyên nhân sau:

-         Giám sát sức khoẻ cho người lao động  chưa liên tục. Người lao động khi chuyển công việc không được theo dõi về tiền sử tiếp xúc với amiang; Khi nghỉ hưu, người lao động  ít được quan tâm về bệnh amiang;

-         Không có các trung tâm theo dõi người lao động  tiếp xúc với amiang nên không thể theo dõi được lịch sử tiếp xúc;

-         Phần lớn các doanh nghiệp tấm lợp có tuổi đời trẻ, trong khi thời gian ủ bệnh của bệnh amiang lại từ 20 năm trở lên; người lao động  tại các doanh nghiệp nhỏ chủ yếu là lao động thời vụ nên ít có điều kiện kiểm tra sức khoẻ;

-         Kinh nghiệm chẩn đoán, phát hiện bệnh amiang còn ít, nguồn lực kém, trong khi bệnh do amiang gây ra khá phức tạp, không dễ phát hiện;

-         Các nghiên cứu dịch tễ học của Việt Nam về vấn đề này còn chưa sâu;

-         Nhiều doanh nghiệp không có điều kiện cho người lao động khám sức khỏe sâu; Tổ chức khám sức khỏe cho cộng đồng có tiếp xúc với amiang tốn kém,…

 

          Rất khó để kiểm soát mức độ an toàn đối với sức khỏe con người tại các cơ sở sản xuất và sử dụng Amiăng tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy: Amiăng có khả năng gây bệnh rất cao dù với mức độ tiếp xúc thấp và không thể sử dụng Amiăng một cách an toàn. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đều khuyến nghị các nước loại bỏ sử dụng tất cả các loại Amiăng để phòng chống các bệnh liên quan đến amiăng. Năm 2006 ILO đã có Khuyến nghị nêu rõ tất cả các loại Amiăng đều được phân loại là chất gây ung thư ở người và đề nghị không sử dụng Công ước Amiăng số 162 năm 1986 để làm lý do tiếp tục sử dụng Amiăng.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại viện An toàn và sức khỏe nghề nghiệp, Bộ y tế Mỹ (NIOSH,CDC- 2015), việc thiếu các số liệu về ung thư trung biểu mô là do:

-         Ở một số nước, có thể là sai sót cố tình;

-         các nước khác có thể do thiếu năng lực khám, chẩn đoán hoặc phát hiện bệnh.

Có những nước phát triển, tiềm năng khoa học mạnh, như Canada, Nga, Ấn Độ... , trong hơn 100 năm luôn là một trong những nước dẫn đầu về khai thác và sử dụng amiang nhưng họ cũng chẳng có các trung tâm đăng ký ung thư quốc gia hoặc đăng ký UTBM quốc gia.

Các nhà khoa học cho rằng sơ suất đó là một phần trong chính sách của chính phủ các nước xuất khẩu Amiang.

Về mặt y học, dựa theo các công trình nghiên cứu độc lập khác nhau của các nhà khoa học tại: Anh, Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Australia, WHO đã kết luận:

-         Amiang là nguyên nhân duy nhất dẫn tới ung thư trung biểu mô (và cho tới nay chưa xác định được nguyên nhân khác).

-         Theo WHO  tỷ lệ mắc bệnh ung thư trung biểu mô hiện nay giao động trong khoảng từ 14 đến 35 trường hợp/1triệu dân/năm tại 11 nước công nghiệp phát triển.

          Hiện nay trên thế giới, 66 quốc gia đã cấm tất cả các loại amiăng trong đó có nhiều quốc gia lớn như Australia, Brazil, Anh, Pháp, Đức, Hàn quốc, Nhật Bản.... Chỉ còn 6 quốc gia vẫn sử dụng lượng rất lớn amiăng trong sản xuất (hơn 50.000 tấn ) gồm Indonesia, Việt Nam, Ấn độ, Nga, Trung quốc và Uzbekistan.

          Chính phủ tại các quốc gia sản xuất nhiều amiăng như Nga, Kazakhastan, Zimbabwe, Trung Quốc cũng đều yêu cầu ghi cảnh báo độc hại trên các bao bì amiăng dòng chữ “Sản phẩm này gây hại cho sức khỏe của bạn”, “Hít phải bụi amiăng có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng tới sức khỏe”…

Trong giai đoạn vừa qua, ngành y tế, lao động đã phối hợp với nhiều đơn vị nghiên cứu triển khai những hoạt động tập trung phòng chống các bệnh liên quan đến Amiăng với sự hỗ trợ của Bộ Y tế – Lao động và Phúc lợi Nhật Bản thông qua Tổ chức Y tế thế giới, Tổ chức Lao động quốc tế như xây dựng Hồ sơ quốc gia về Amiăng; chỉ đạo thực hiện đảm bảo an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất và sử dụng Amiăng; nâng cao năng lực giám sát môi trường lao động và chẩn đoán các bệnh liên quan đến Amiăng; giám sát các trường hợp ung thư trung biểu mô tại cộng đồng; tuyên truyền về tác hại của amiăng và các biện pháp phòng chống. Tuy nhiên, việc phổ biến các thông tin vẫn còn thiếu, nhất là cho đối tượng người lao động và cộng đồng dân cư.

             

Hình 3. Cảnh báo độc hại trên các bao bì amiăng ở các nước xuất khẩu

                    Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội trực thuộc VUSTA cũng đã phối hợp với Bộ Y tế, các đại biểu quốc hội, các chuyên gia và các tổ chức quốc tế như APHEDA, ILO, WHO trong nhiều hoạt động khác nhau như khảo sát, nghiên cứu, truyền thông, vận động chính sách, kiến nghị lên các cơ quan nhà nước, dự hội nghị quốc tế tại Thụy Sĩ… để thúc đẩy tiến trình cấm sử dụng amiăng ở Việt Nam.

          Ngày 17/7/2014 Hội thảo về Amiang và sức khỏe đã được Bộ Y tế phối hợp với Bộ Khoa học, công nghệ và Tổ chức Y tế thế giới tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới, các nhà khoa học, các đại biểu quốc hội và đại diện các bộ, ngành. Hội thảo đã thống nhất một số điểm sau:

          – Khẳng định tất cả các dạng amiăng gây ung thư và không có ngưỡng an toàn nào cho việc sử dụng amiăng, kể cả amiăng trắng

          – Càng tăng việc sử dụng amiăng thì càng làm tỷ lệ ung thư gia tăng. Ung thư trung biểu mô là một ung thư khá đặc hiệu do amiăng gây ra. Vấn đề nghiên cứu tác hại và bệnh học do amiăng gây ra rất khó khăn về nhân lực và vật lực. Cần đội ngũ nghiên cứu có chuyên môn cao.

          – Việc xử lý vật liệu phế thải amiăng còn hạn chế. Vì vậy việc tồn tại amiăng trong môi trường và nguy cơ gây bệnh của amiăng còn hiện hữu.

          – Chi phí khắc phục hậu quả của amiăng tốn kém hơn nhiều so với lợi ích kinh tế của amiăng mang lại.

          – Việc phổ biến tuyên truyền tác hại của amiăng cho người dân còn rất hạn chế
          – Các quy định của Quốc tế khá rõ ràng. WHO và ILO đều kêu gọi các quốc gia thành viên cấm sử dụng amiăng trắng. Là nước thành viên, Việt Nam phải tham chiếu và dựa trên lời kêu gọi của WHO/ILO để có những quyết định phù hợp nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động và đặc biệt sức khỏe cho người tiêu dùng.

          Các đại biểu cũng thống nhất kiến nghị một số hành động cụ thể:

-         Không cần thiết có nghiên cứu chứng minh tác hại của amiăng với sức khỏe, hiện tại Việt nam cũng chưa thể tiến hành các nghiên cứu này, mà Việt Nam cần có các nghiên cứu về hướng dẫn sử dụng an toàn đối với người lao động và cộng đồng dân cư, xử lý các chất thải có amiang…

-         Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục đặc biệt với người sản xuất có amiăng, người lao động và người dân đang sử dụng sản phẩm chứa amiăng

-         Việt Nam cần thể hiện rõ quan điểm đưa amiăng vào Phụ lục 3 của Công ước Rotterdam vào năm 2015

-         Đề nghị Chính phủ cần có một lộ trình cấm hoàn toàn việc sử dụng amiăng, không nên kéo dài thời gian sử dụng ở Việt Nam

-         Khẩn trương tiến hành rà soát các văn bản có liên quan, các vấn đề về bảo vệ người tiêu dùng, các vấn đề về xử lý chất thải amiăng

-         Cần có giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người lao động, cộng đồng, giải pháp về vật liệu thay thế… khi bắt đầu lộ trình cấm amiăng.

 

4.     Chính sách của Nhà nước về dừng sử dụng amiăng

          Năm 2001: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg nêu rõ “Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng cần có kế hoạch nghiên cứu và sử dụng vật liệu thay thế cho amiăng trong sản xuất tấm lợp. Kiểm tra nghiêm ngặt các cơ sở sản xuất tấm lợp sử dụng amiăng hiện có theo tiêu chuẩn môi trường và y tế, không tăng sản lượng và không đầu tư mới cơ sở sản xuất tấm lợp sử dụng amiăng. Từ năm 2004, không được sử dụng vật liệu amiăng trong sản xuất tấm lợp”.

          Năm 2014: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 có nêu “Từ nay đến năm 2020 đầu tư mới và đầu tư mở rộng các dây chuyền sản xuất tấm lợp xi măng sợi (chứ không phải tấm lợp AC. Ngành vật liệu xây dựng đã lập lờ, đánh tráo khai niệm này để nâng công xuất sản xuất tấm lợp AC lên trên 100 triệu m2/năm - tác giả) để có tổng công suất thiết kế trên cả nước đạt khoảng 106 triệu m2/năm”. (Trong quyết định nêu nhu cầu năm 2015 là 96,3 triệu m2) và trong phần định hướng phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2030 đối với tấm lợp có nêu là: “Xây dựng lộ trình giảm dần tiến tới chấm dứt việc sử dụng sợi amiăng chrysotile trong sản xuất vật liệu lợp”’

          Năm 2014: Thông báo số 7307/VPCP-KGVX ngày 19/9/2014 của Văn phòng Chính phủ về triển khai đánh giá và kiểm soát tác hại vật liệu amiăng trắng đến sức khỏe con người: “…giao các Bộ: Xây dựng, Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, áp dụng kinh nghiệm quản lý quốc tế và tăng cường kiểm tra, giám sát đối với hoạt động sản xuất và sử dụng amiang trắng về môi trường làm việc; điều kiện an toàn, bảo hộ lao động; điều kiện và tiêu chí bệnh nghề nghiệp; tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; quy định về xử lý môi trường với các sản phẩm thải bỏ có chứa amiang trắng là chất thải nguy hại”.

          Năm 2017: Văn bản số 7232/VPCP-KGVX của Văn phòng Chính phủ ngày 11/7/2017 giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ/ngành liên quan đề xuất cụ thể lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng phù hợp với việc tìm vật liệu tấm lợp thay thế, đáp ứng yêu cầu và khả năng chi trả của người dân tại các khu vực khó khăn. Văn phòng Chính phủ cũng đã giao Bộ Y tế phối hợp với các bộ/ngành liên quan xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia loai trừ các bệnh liên quan đến amiăng giai đoạn 2020 và định hướng đến năm 2030 đảm bảo toàn diện, khoa học, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và các thông lệ quốc tế, trong đó cần xác định rõ biện pháp xử lý sản phẩm thải bỏ có chứa amiăng trắng và các biện pháp giảm thiểu tác động của amiăng trắng đối với sức khỏe người dân và môi trường Việt Nam’

          Năm 2018: Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ giao cho Bộ Xây dựng dự thảo lộ trình dừng sử dụng amiang vào 2023 trình Chính phủ phê duyệt.

          Năm 2018: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết của ngành xây dựng ngày 16/01/2018 về dừng sử dụng amiăng trắng chậm nhất vào 2023.

5.     Giải pháp kiểm soát

          Bộ  y tế đã khuyến cáo cho người người lao động và người dân để bảo vệ sức khỏe, phòng chống bệnh liên quan đến amiang như sau:

          – Đối với người lao động:

          + Làm một số ngành nghề công việc sau có thể phải tiếp xúc với amiăng và có thể mắc bệnh: Sản xuất vật liệu xây dựng tấm lợp amiăng; Tán, nghiền, sàng và thao tác khô với quặng hoặc đá có amiăng; Chải sợi, kéo sợi và dệt vải amiăng; làm cách nhiệt bằng amiăng; Tháo dỡ các công trình xây dựng có sử dụng amiăng; Thao tác khô với amiăng trong kỹ nghệ chế tạo ximăng amiăng; Chế tạo các loại bộ phận má phanh ô tô, bìa giấy bằng amiăng…

          + Dự phòng các bệnh có liên quan đến Amiăng: Sử dụng các loại trang thiết bị phòng hộ cá nhân đúng tiêu chuẩn chất lượng (quần áo, giầy dép, khẩu trang); Không hút thuốc, ăn uống tại nơi làm việc; Tắm rửa thay quần áo tại nơi lao động, không mang quần áo bẩn về nhà để giặt rũ; Định kỳ khám, chụp phim X quang phổi, đo chức năng hô hấp để kiểm tra sức khỏe và phát hiện sớm bệnh có liên quan đến Amiăng…Khi có các dấu hiệu của bệnh liên quan đến Amiăng, cần thông báo ngay cho cơ quan y tế (Các biểu hiện thường gặp khi mắc bệnh như: Đau tức ngực và khó thở, đau tức ngực khi gắng sức là hai triệu chứng chính của bệnh; Ho kéo dài; lúc đầu ho khan, sau ho kèm theo khạc đờm; Ho ra máu, thở khò khè…)

          – Đối với người dân:

          + Nếu gia đình đang sử dụng tấm lợp A-C thì không tự ý tháo dỡ, vứt bỏ vật liệu chứa amiang mà cần có tư vấn của cơ quan môi trường địa phương, không dùng các tấm Amiăng vỡ để lát đường, làm chuồng trại;

          + Nếu sống gần các nhà máy sản xuất các vật liệu chứa Amiăng (tấm lợp, má phanh..). Khi có các biểu hiện bệnh do bụi Amiăng cần đi khám và báo cho các cơ quan có thẩm quyền (môi trường, y tế) để kiểm tra, xử lý và điều trị bệnh kịp thời.

 

          Theo chúng tôi, để có thể kiểm soát và loại bỏ các bệnh do amiang gây ra, chúng ta cần tiến hành ngay các giải pháp:

-         Cách hiệu quả nhất để kiểm soát và loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng là ngừng sử dụng tất cả các loại amiăng. Bởi vì hiện nay chúng ta đã có rất nhiều vật liệu thay thế tương đương và tốt hơn.

-         Thông tin rộng rãi các giải pháp thay thế amiăng bằng các vật liệu an toàn hơn và áp dụng các cơ chế kinh tế và công nghệ để kích thích sản xuất và áp dụng các vật liệu thay thế.

-         Áp dụng ngay các biện pháp ngăn ngừa phơi nhiễm với amiăng tại nơi sản xuất, chỗ sử dụng và trong quá trình loại bỏ amiăng.

-         Nâng cao kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng sớm cho các bệnh liên quan đến amiăng;

-         Thiết lập các trung tâm nguồn dữ liệu amiang để đăng ký, theo dõi và giám sát điều trị cho những người bị phơi nhiễm với amiăng

-         Nâng cao nhận thức của cộng đồng về những tác hại của amiang để biết cách phòng, tránh.

-         Các cơ quan quản lý cần xác định chất thải có chứa amiang là chất thải nguy hại để có biện pháp hữu hiệu khi xử lý.

Tài liệu tham khảo

1. Cục quản lý môi trường y tế. Tóm tắt thông tin về amiăng và ảnh hưởng của amiăng tới sức khỏe. 24/07/2014. http://vihema.gov.vn/.

2.      Asbestos: elimination of asbestos-related diseases. World Health Organization. July 2014.

3.     Asbestos – Health Effects ATSDR – Agency for Toxic Substances and Disease Registry (1 April 2008). Retrieved 4 June 2013.

4.     Asbestos - What is... : OSH Answers. Ccohs.ca (2015-09-09). Retrieved on 2015-10-17.

5.     Jump up to:a b "Safety and Health Topics: Asbestos." Occupational Safety & Health Administration. United States Department of Labor. (2014).