Tư vấn phản biện

01/01/2020

Bảo đảm an toàn khi còn phải sống cùng vật liệu chứa amiang

GS.TS.Lê Vân Trình,
Chủ tịch Hội KHKT An toàn vệ sinh lao động VN
 
Nội dung:
1.Lịch sử và quá trình sử dụng Amiang
2.Amiang với những vấn đề sức khỏe
3. Làm thế nào để an toàn khi còn phải sống chung với vật liệu có amiang
 
1.     Lịch sử và quá trình sử dụng Amiang
 
Việc sử dụng Amiăng có niên đại ít nhất 4.500 năm, đầu tiên là ở Phần Lan, sau đó là La Mã cổ đại..
Các nghiên cứu khảo cổ đã tìm thấy bằng chứng về việc amiăng đã được sử dụng từ thời kỳ đồ đá để gia cố các bình gốm,  nhưng việc khai thác quy mô lớn bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 khi các nhà sản xuất và xây dựng bắt đầu sử dụng amiăng vì các đặc tính vật lý mong muốn của nó.
Sản xuất amiăng không phải là một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ cho đến cuối những năm 1800, khi cuộc Cách mạng Công nghiệp bắt đầu giúp duy trì sự tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định của ngành. Đó là khi các ứng dụng thương mại và thực tế của amiăng, với vô số ứng dụng của nó, trở nên phổ biến. Khi việc khai thác và sản xuất amiăng bùng nổ, tác động nguy hiểm đến sức khỏe của nó đối với những người khai thác và tinh chế khoáng chất này cũng như những người làm việc với nó cũng kéo theo.
Khả năng chống lại hóa chất, nhiệt, nước và điện của amiăng khiến nó trở thành chất cách nhiệt tuyệt vời cho động cơ hơi nước, tuabin, lò hơi, lò nướng và máy phát điện cung cấp cho cuộc Cách mạng Công nghiệp. Các đặc tính dễ uốn của amiăng khiến nó trở thành một loại hàng hóa quan trọng trong việc xây dựng, ràng buộc và tăng cường sức mạnh.
Vào đầu thế kỷ 19, amiăng xanh (crocidolite) đã được tìm thấy ở Free State, Châu Phi. Năm 1876, amiăng trắng (chrysotile) được phát hiện ở thị trấn Thetford, phía đông nam Quebec. Ngay sau đó, người Canada đã thành lập các mỏ amiăng thương mại đầu tiên trên thế giới. Họ đã cùng với Nga khai quật dạng khoáng chất mềm, dạng sợi, được tìm thấy trong hơn 95% tất cả các sản phẩm amiăng .
Đầu những năm 1870 cũng chứng kiến ​​sự thành lập của các ngành công nghiệp amiăng lớn ở Scotland, Đức và Anh. Ý đã khai thác amiăng tremolite trong nhiều thập kỷ. Người Úc bắt đầu khai thác amiăng ở Jones Creek, New South Wales, vào những năm 1880. Vào đầu những năm 1900, amiăng anthophyllite được khai thác ở Phần Lan. Amosite (amiăng nâu) được phát hiện ở Transvaal, Nam Phi. Chrysotile từ các mỏ ở Swaziland và Zimbabwe được khai thác và bán trên khắp thế giới.
Vào đầu những năm 1900, sản lượng amiăng đã phát triển trên toàn thế giới lên đến hơn 30.000 tấn mỗi năm. Trẻ em và phụ nữ được bổ sung vào lực lượng lao động của ngành công nghiệp amiăng, chuẩn bị, chải thô và kéo sợi thô, trong khi nam giới làm việc trong các mỏ.
Bất chấp những cảnh báo nhất quán về sức khỏe, khai thác và sản xuất amiăng là một động cơ không thể dừng lại. Vào năm 1910, sản lượng thế giới đã vượt quá 109.000 tấn, gấp hơn ba lần tổng số vào năm 1900.
Tại Hoa Kỳ, tiêu dùng gia tăng xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng của người dân đối với các vật liệu xây dựng sản xuất hàng loạt, tiết kiệm chi phí. Sản phẩm amiăng đã đáp ứng nhu cầu đó. Mỹ nhanh chóng trở thành nước dẫn đầu thế giới về sử dụng amiăng, với nước láng giềng Canada cung cấp nguồn cung ổn định. Trên thực tế, sự bùng nổ của Thế chiến I, sau đó là cuộc Đại suy thoái, tạm thời làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành amiăng theo cấp số nhân. Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu đã làm sống lại sự phát triển đó.
Trong khi hoạt động khai thác và sản xuất trong Thế chiến II thực sự sụt giảm ở nhiều quốc gia sản xuất amiăng, Canada, Nam Phi và Mỹ có thể cung cấp phần lớn nhu cầu khoáng sản ngày càng tăng trong thời chiến của Mỹ. Mức tiêu thụ amiăng của Hoa Kỳ vào năm 1942 đã tăng lên khoảng 60% sản lượng thế giới, tăng từ 37% vào năm 1937. Việc quân đội Hoa Kỳ sử dụng nhiều amiăng cuối cùng đã dẫn đến tỷ lệ ung thư trung biểu mô cao ở các cựu chiến binh.
Khi ô tô trở thành một yếu tố chung của cảnh quan Hoa Kỳ, thì những con đường mới bền hơn cũng vậy. Một số con đường được xây dựng ở Mỹ giữa những năm 1930 và 1950 có nhựa đường có tẩm amiăng.
Các sản phẩm có chứa amiăng:
·         Tấm lợp xi măng amiăng
·         Dùng amiăng cách điện cho hệ thống dây điện
·         Cách nhiệt  và cách âm
·         Bộ ly hợp ô tô và máy bay
·         Các miếng đệm và vật liệu đóng gói chịu nhiệt và chịu axit
·         Chất độn và chất gia cố cho vữa trát và sơn
·         Lớp phủ chống cháy dạng phun cho dầm thép trong các tòa nhà
·         Má phanh ô tô, xe tải và máy bay và lớp lót, con dấu và miếng đệm
·         Quần áo chống nóng cho công nhân lò và lính cứu hỏa
2.     Amiang với những vấn đề sức khỏe
Amiăng là một trong những chất gây ung thư nghề nghiệp, là nguyên nhân của khoảng ½ số tử vong do ung thư nghề nghiệp (1, 2). Năm 2003, Kỳ họp thứ 13 của Ủy ban liên tịch về Sức khỏe Nghề nghiệp của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến nghị rằng cần quan tâm đặc biệt tới việc loại trừ các bệnh liên quan đến amiăng (3). Nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới (WHA) số 58.22 năm 2005 về phòng chống ung thư đã hối thúc các Quốc gia Thành viên chú trọng đặc biệt tới các căn bệnh ung thư trong đó có yếu tố phòng tránh phơi nhiễm, đặc biệt là phơi nhiễm với các hóa chất tại nơi làm việc và trong môi trường. Năm 2007, Nghị quyết của WHA số 60.26 đã kêu gọi có những chiến dịch toàn cầu để loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng, và vào năm 2013, Nghị quyết của WHA số 66.10 đã đề cập đến việc phòng chống các bệnh không lây nhiễm, kể cả ung thư.
2.1. Lịch sử phát hiện ra amiang
Học giả La Mã cổ đại Pliny the Younger (61-112 SCN) đã viết rằng những nô lệ khai thác mỏ và làm việc với amiăng đã bị bệnh, mặc dù phải gần 2.000 năm nữa các nhà khoa học mới phát hiện ra nguyên nhân của căn bệnh bí ẩn này.
Năm 1899, H. Montague Murray đã ghi nhận những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của amiăng.
Ngay từ năm 1897, một bác sĩ người Áo đã cho rằng một trong những bệnh nhân của ông đã mắc các bệnh về phổi do hít phải bụi amiăng. Một báo cáo năm 1898 liên quan đến quy trình sản xuất amiăng ở Anh, nơi các nhà máy được kiểm tra thường xuyên kể từ năm 1833 để bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người lao động, đã trích dẫn "tổn thương và tổn thương phổi trên diện rộng do xung quanh nhà máy amiăng có nhiều bụi".
Vào đầu những năm 1900, các nhà nghiên cứu bắt đầu nhận thấy một số lượng lớn các ca tử vong sớm và các vấn đề về phổi ở các thị trấn khai thác amiăng tại nước Anh.
Vào năm 1906, cái chết đầu tiên được ghi nhận của một công nhân amiăng do suy phổi được ghi nhận bởi Tiến sĩ Montague Murray tại Bệnh viện Charring Cross ở London. Quá trình khám nghiệm tử thi của nạn nhân 33 tuổi cho thấy có một lượng lớn sợi amiăng trong phổi của anh ta. Các báo cáo về cái chết của công nhân do "xơ hóa" trong các nhà máy amiăng ở Ý và Pháp lặp lại các nghiên cứu ở Mỹ cho rằng công nhân amiăng chết trẻ một cách bất thường. Và ngay từ năm 1908, các công ty bảo hiểm ở Mỹ và Canada đã bắt đầu giảm phạm vi bảo hiểm và phúc lợi, đồng thời tăng phí bảo hiểm cho những người lao động làm việc trong ngành amiăng.
Những ảnh hưởng đến sức khỏe con người do tiếp xúc lâu dài với amiăng không an toàn đã được ghi nhận đầy đủ. Sợi amiăng dễ dàng hít vào và đi vào các vùng dưới của phổi, nơi chúng có thể gây ra bệnh phổi xơ (bệnh bụi phổi amiăng) và những thay đổi trong niêm mạc của khoang ngực (màng phổi). Những bệnh này có thể dẫn đến giảm chức năng hô hấp và tử vong. Việc hít phải sợi amiăng trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ ung thư phổi và ung thư trung biểu mô.
Các bệnh do amiang gây ra
-         Hiệu ứng thanh quản
Tiếp xúc với amiăng cũng được chứng minh là làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh viêm thanh quản trong một số nghiên cứu nhỏ.
-         Hiệu ứng hệ thống miễn dịch
Đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của việc tiếp xúc với amiăng đối với hệ thống miễn dịch. Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng chức năng hệ thống miễn dịch bị giảm ở những công nhân mắc bệnh bụi phổi amiăng. Người ta vẫn chưa xác định được những thay đổi trong chức năng miễn dịch là nguyên nhân hay kết quả của bệnh bụi phổi amiăng. Ở những công nhân tiếp xúc với amiăng nhưng chưa phát triển các dấu hiệu lâm sàng của bệnh bụi phổi amiăng, chức năng miễn dịch bị suy giảm nhẹ hoặc không có thay đổi nào được ghi nhận.
Tiếp xúc với amiăng có thể là một yếu tố nguyên nhân trong việc phát triển một tình trạng hiếm gặp được gọi là xơ hóa sau phúc mạc. Tình trạng này là sự phát triển của một khối xơ nằm sau lớp màng lót trong khoang bụng, có thể dẫn đến suy thận. Có một nghiên cứu kiểm soát trường hợp và có một số báo cáo trường hợp chỉ ra rằng phơi nhiễm với amiăng có thể là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với xơ hóa sau phúc mạc.
-         Bệnh bụi phổi amiăng
Bệnh bụi phổi amiang là bệnh gây sẹo trong mô phổi; những trường hợp bị nặng những mô rỗng, xốp sẽ bị cứng lại và co lại ( hình 9), các túi khí không còn chứa được nhiều không khí nữa hoặc không thể truyền oxy vào cơ thể qua các vách ngăn của phế nang.
 
Phổi bị cứng sẽ làm giảm độ sâu của mỗi lần hít thở do đó hít thở phải nhanh hơn và nông hơn. Thở ngắn (short breath) là 1 dạng bệnh.
 
      Bệnh bụi phổi amiang phát sinh do tiếp xúc với amiang nồng độ cao. Bệnh không gây đau, tuy nhiên gây khó thở có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí cả năm.
Khi mắc bệnh bụi phổi amiang các mô phổi bị hỏng; sự tạo thành sẹo phổi là do cơ thể tự chữa bệnh tạo nên sẹo. Bệnh bụi phổi amiang không phải là bị viêm, cũng không phải khối u do đó nó cũng không lây qua người khác.
 
Bệnh bụi phổi amiăng xảy ra thường sau vài năm tiếp xúc với sợi amiăng. Sự phát triển và tiến triển của bệnh bụi phổi amiăng khác nhau ở từng người. Nó thường chậm và ít thay đổi trong năm, mười năm hoặc hơn. Nhiều trường hợp không tiến triển sau khi chẩn đoán. Tuy nhiên, nó có thể nhanh hơn ở một số người so với những người khác do các điều kiện tiếp xúc với bụi trong quá khứ khác nhau.
 
                                                                              

                                                               Hình 1. Bệnh bụi phổi do amiang gây ra
-         Bệnh mảng màng phổi
 
Bệnh màng phổi, một dấu hiệu của sự phơi nhiễm amiăng, bao gồm sự hình thành các mảng màng phổi, vôi hoá, dày lên, xẹp phổi dạng nốt, dính, tràn dịch màng phổi và u trung biểu mô. Chẩn đoán được dựa trên tiền sử và chụp X-quang ngực hoặc các phát hiện trên CT. Điều trị là hỗ trợ.
 
Mảng màng phổi khi phát triển tới 1 kích thước nào đó thì sẽ ngừng lại. Thường thì  nó xuất hiện sau khoảng 20 năm kể từ khi tiếp xúc lần đầu và nó sẽ nằm lại đó. Nó có thể là 1 mẩu nhỏ nhưng cũng có thể phát triển tràn lan, chiếm gần hết vách trong của ngực. Hầu như không có biểu hiện gì khi mắc bệnh mảng màng phổi. Khi phát hiện thấy trên phim x- quang, có thể khẳng định rằng trong quá khứ bệnh nhân đã từng tiếp xúc với amiang. Cùng với thời gian, những mảng này sẽ rõ hơn do tích tụ canxi trong các mô đó.
                                               
                                                       Hình 2. Bệnh mảng màng phổi do amiang
-         Ung thư phổi khi tiếp xúc với amiăng
Nguy cơ bị ung thư phổi sau khi tiếp xúc với amiăng phụ thuộc vào một số yếu tố:
·         Mức độ (bao nhiêu) và thời lượng (độ dài) tiếp xúc
·         Thời gian kể từ khi tiếp xúc xảy ra
·         Độ tuổi xảy ra phơi nhiễm
·         Tiền sử hút thuốc lá của người bị phơi nhiễm, và
·         Loại và kích thước của sợi amiăng.
Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc đến khi phát triển ung thư (giai đoạn tiềm ẩn) là 20 đến 30 năm. Mặc dù ung thư phổi nói chung có liên quan đến việc tiếp xúc lâu dài với amiăng, nhưng cũng có những nghiên cứu cho thấy rằng những công nhân tiếp xúc từ 1 đến 12 tháng có nguy cơ phát triển ung thư phổi trong vài năm sau đó.
Ung thư phổi cũng đã được phát hiện ở các thành viên gia đình của công nhân tiếp xúc amiăng, có lẽ là do tiếp xúc khi người lao động mang quần áo làm việc về nhà.
Ung thư phổi thường không gây ra các triệu chứng trong giai đoạn đầu. Các triệu chứng của ung thư phổi bao gồm ho mạn tính, sụt cân, khó thở, sốt và đau ngực. 
Ung thư phổi là có cục mô bất bình thường trong phổi (hình 3 ). Cục mô hình thành và phát triển từ nhỏ đến lớn do các tế bào không bình thường được tiếp nhận dinh dưỡng từ các bộ phận khỏe mạnh của cơ thể và phát triển không kiểm soát được. Cục mô lớn đó gọi là khối u hay u bướu. Khối u đó có thể nhìn thấy trên phim x-quang dưới dạng 1 đốm sẫm.
                                             
                                                                         Hình 3. Bệnh Ung thư phổi
-         U trung biểu mô
Yếu tố nguy cơ chính của u trung biểu mô là Amiăng. Của những người tiếp xúc với amiăng. 
U trung biểu mô là một dạng u ác tính phát triển ở màng phổi (hình 4).
Màng phổi là lớp mô bọc lấy phổi đồng thời cũng là lớp màng lót mặt trong của vách ngực. Nó là lớp rất mỏng, trong suốt như lớp giấy bóng bọc thức ăn.
Ung thư trung biểu mô tương đối hiếm trong dân số nói chung, nhưng thường được quan sát thấy ở những công nhân làm amiăng và đôi khi ở các thành viên trong gia đình / hộ gia đình. Các nghiên cứu bệnh chứng đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tiếp xúc nghề nghiệp với sợi amiăng và sự phát triển của ung thư trung biểu mô.
U trung biểu mô ác tính là một loại ung thư ác tính, thường gây tử vong. Ung thư trung biểu mô cũng đã được thấy ở những thành viên gia đình của công nhân sử dụng amiăng.
Tương tự như ung thư phổi, một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ ung thư trung biểu mô sau khi tiếp xúc với amiăng phụ thuộc vào thời gian kể từ khi tiếp xúc (độ trễ), với nguy cơ tăng theo cấp số nhân với thời gian sau khoảng 10 năm. Một số nhà khoa học cho rằng việc xác định và can thiệp sớm u trung biểu mô có thể tăng khả năng sống sót.        
                                                                                  
                                 Hình 4. Bệnh U trung biểu mô
 
Bệnh nhân u trung biểu mô màng phổi thường xuyên bị đau ngực, vai và ho khan. Khi ung thư tiến triển và khối u phát triển lớn hơn, cũng có thể bị sụt cân, suy nhược và sốt.
-         U trung biểu mô màng bụng (phúc mạc )
Đôi khi u trung biểu mô không ở phổi mà ở màng bụng. Khoảng 1/10 trường hợp u trung biểu mô xảy ra ở màng bụng. Ổ bụng được 1 lớp màng bao bọc giống như màng phổi. Vì nó bọc nội tạng trong bụng nên gọi là màng bụng. Triệu chứng đầu tiên nhận biết u trung biểu mô màng bụng là bụng bị chướng. Phần lớn các ca u trung biểu mô màng bụng là do tiếp xúc với bụi amiang nồng độ cao.
Một nữ bệnh nhân 21 tuổi ở Caucasian, Moroccan, năm 2011 đã nhập viện, người này đã có những cơn đau không rõ rệt và sưng phồng ở vùng bụng mà không có triệu chứng gì khác trong suốt 2 năm. Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân không có gì đáng đặc biệt. Khám nghiệm lâm sàng phát hiện một khối bụng di động, không gây đau và khá cứng. Chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ vùng bụng cho thấy một khối u 35 x 20 x 10cm ở khoang bụng-chậu, khối u không có liên kết gì với các nội quan gần bên (Hình 1).
Nghiên cứu cho thấy, khu vực người này sống hầu hết đều được lớp bằng tấm amiang và họ thường hứng nước mưa chảy tràn trên mái để uống.
                                                            
                           Hình 5. Hình ảnh chụp cắt lớp khối u phúc mạc và ảnh khối u sau khi bóc ra của nữ bệnh nhân ở Caucasian, Moroccan
-         Ai có nguy cơ mắc bệnh liên quan đến amiăng?
        Không có mức phơi nhiễm an toàn nào có thể bảo vệ khỏi phát triển các bệnh liên quan đến amiăng ( Tổ chức Y tế Thế giới ).
          Điều này là do amiăng là một chất gây ung thư độc tố gen và do đặc tính tương tác DNA của nó, không có ngưỡng hoặc liều lượng phơi nhiễm an toàn. Các chất gây ung thư genotoxic được quy định với giả định, chúng gây nguy cơ ung thư cho con người, ngay cả ở liều lượng rất thấp.
Bất kỳ ai cũng có thể có nguy cơ tiếp xúc với sợi amiăng, hoặc do tiếp xúc với amiăng tự nhiên có trong một số loại đá, trầm tích và đất hoặc khi tiếp xúc với các vật liệu có chứa amiăng trong môi trường của nước ta, bởi những nhà lợp tấm xi măng amiang còn rất nhiều.
Những người có nguy cơ phơi nhiễm cao nhất là những người sửa chữa, bảo trì, cải tạo và các công việc khác trên các tòa nhà và cơ sở hạ tầng cũ có chứa vật liệu amiăng.
Chỉ cần sống hoặc làm việc trong một tòa nhà có chứa amiăng là không nguy hiểm, miễn là amiăng ở trong tình trạng tốt (không bị hư hại) và không bị xáo trộn. Mức độ cơ bản của amiăng (mức xuất hiện tự nhiên) có trong không khí.
Mọi người đều tiếp xúc với amiăng tại một số thời điểm trong cuộc đời của họ. Mức độ thấp của amiăng có trong không khí, nước và đất. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không bị bệnh do phơi nhiễm. Những người bị bệnh do amiăng thường là những người tiếp xúc với nó một cách thường xuyên, thường xuyên nhất trong công việc mà họ làm việc trực tiếp với vật liệu hoặc thông qua tiếp xúc nhiều với tấm lợp có aminag.
Tình hình bệnh do amiang gây ra trên thế giới
Theo tổ chức Y tế thế giới, từ khi xác đinh ra nguyên nhân gây tử vong do amiang, trên thế giới đã có hơn 100.000 người chết do bệnh do amiang gây ra.
Theo Hồ sơ quốc gia về amiăng 2018 của Đức(DNA), Từ năm 1994-2017, trên toàn thế giới đã thống kê được, hơn 34.000 ca tử vong do các bệnh liên quan đến amiăng.
Sau đây là tình hình cụ thể ở một số nước:
Ở Australia
Cơ quan đăng ký u trung biểu mô Úc báo cáo rằng 641 người Úc đã chết vì ung thư trung biểu mô vào năm 2014, đây là báo cáo công khai gần đây nhất về căn bệnh này.
Những con số đó cũng cho thấy số lượng bệnh đang tăng lên theo thời gian và các mô hình y tế khác nhau chỉ ra đỉnh điểm về số ca tử vong do u trung biểu mô từ năm 2014 đến năm 2021.
Theo Viện Y tế và Phúc lợi Úc, số ca ung thư trung biểu mô ở nước này sẽ lên tới 18.000 người vào năm 2025
Ở Mỹ
Sau thế chiến thứ hai, khoảng 100.000 người ở Hoa Kỳ đã chết hoặc bị bệnh nan y do phơi nhiễm liên quan đến amiăng tại khu công nghiệp đóng tàu Hampton Roads.
Có 4,3 triệu công nhân đóng tàu ở Hoa Kỳ trong Thế chiến II; cứ 1.000 công nhân thì có khoảng 14 người chết vì u trung biểu mô và một số người chưa biết đã chết vì bệnh bụi phổi amiăng.
Hiện nay có hơn 16.000 vụ kiện từ người tiêu dùng ở Mỹ liên quan đến cáo buộc các sản phẩm có chứa chất gây ung thư là amiang . Trong đó 12.000 người kiện hãng Johnson’s Baby Powder với thành phần bột talc có chứa amiang gây ung thư.
Trước đó vào tháng 7.2018, tòa án tại Missouri quyết định buộc Johnson & Johnson bồi thường tổng cộng 4,69 tỉ USD (108.443 tỉ đồng) cho 22 phụ nữ và gia đình của họ vì bị bệnh liên quan đến amiang có trong bột phấn rôm.
Gần đây nhất, ngày 13/3/2019 Tòa án California vừa buộc Tập đoàn Johnson & Johnson (J&J) bồi thường cho một nữ khách hàng Terry Leavitt 29,4 triệu USD do liên quan đến sản phẩm phấn rôm chứa amiăng.
Ở Nhật Bản
 
Ngày 29/6/2005, nhiều công nhân tại nhà máy ống fibro xing Kanzaki Kubota trước kia đã bị ung thư do tiếp xúc với amiăng. Tháng 3/2006, 105 nhân viên nhà máy này(chiếm 10% tổng số lao động), đã chết vì bệnh liên quan đến amiăng. tạo ra một cú sốc trên các phương tiện truyền thông.5 người dân sống trong bán kính 1km cách nhà máy đã bị bệnh bụi phổi do A và 2 người đã chết. Người ta gọi đây là “Cú sốc Kubota”
3.     Làm thế nào để an toàn khi còn phải sống chung với vật liệu có amiang
Một trong những ứng dụng rộng rãi nhất của amiăng trong ngành xây dựng là việc tạo ra các tấm xi măng sợi để lợp mái, mà chúng ta thường gọi là Phibroximang, hay tôn ximang amiang. Do đặc tính chịu nhiệt và chống cháy, amiăng đã được thêm vào nhiều sản phẩm lợp mái, bao gồm cả ngói. Tấm xi măng sợi không chỉ chứa amiăng. Chúng phần lớn được làm từ xi măng, với amiăng hiện đã bị nhiều nước cấmcấm thêm vào hỗn hợp xi măng. Theo các nhà sản xuất, tấm xi măng sợi thường được làm từ 10 đến 15% amiăng.
 
Cách phổ biến nhất để sợi amiăng xâm nhập vào cơ thể là qua đường thở. Trên thực tế, vật liệu chứa amiăng thường không được coi là có hại trừ khi nó thải bụi hoặc sợi vào không khí nơi chúng có thể được hít vào hoặc ăn vào. Nhiều chất xơ sẽ bị mắc kẹt trong màng nhầy của mũi và cổ họng, nơi chúng có thể được loại bỏ, nhưng một số có thể đi sâu vào phổi, hoặc nếu nuốt phải vào đường tiêu hóa. Một khi chúng bị mắc kẹt trong cơ thể, các chất xơ có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe.
Amiăng nguy hiểm nhất khi nó bị bở . Thuật ngữ "bở" có nghĩa là amiăng dễ dàng bị vỡ vụn bằng tay, giải phóng các sợi vào không khí. Amiang thường bị “bở“ sau khi tấm lợp sử dụng được một số năm, bị mưa, gió và rêu phong làm cho mục lớp xi mưng bảo vệ và người ta gọi là “bở”. Sự hư hỏng và suy giảm chất lượng sẽ làm tăng độ bở của vật liệu chứa amiăng. Hư hỏng do nước, rung lắc liên tục, lão hóa và tác động vật lý như khoan, mài, đánh bóng, cắt, cưa hoặc va đập có thể làm vỡ các vật liệu làm cho khả năng giải phóng sợi dễ dàng hơn.
Hiện tại chưa có quyết định nào yêu cầu phải dỡ bỏ các mái nhà amiăng, vì vậy quyết định là tùy thuộc vào cộng đồng. Rõ ràng, sẽ cần phải tính đến chi phí loại bỏ và thay thế. Cho nên, đối với những mái nhà còn mới, không nhất thiết phải dỡ bả, mà có thể sống chung cùng nó, với điệu kiện phải có những giải pháp an toàn.
 
Mái nhà càng bị phong hóa, nguy cơ xuống cấp càng lớn, có thể khiến gia đình và hàng xóm của nhà có amiang sẽ tiếp xúc với sợi amiăng có hại.
 
Gạch trần, gạch lát nền có chứa amiăng, các lớp cách nhiệt, cách âm, ván lợp, cửa chống cháy, nhất là các tấm lợp, v.v. sẽ không giải phóng sợi amiăng trừ khi chúng bị xáo trộn hoặc hư hỏngnhư trên đã nói. Ví dụ, nếu tấm lát trần bằng amiăng bị khoan hoặc bị vỡ, nó có thể giải phóng các sợi vào không khí. Nếu nó được để yên và không bị xáo trộn, nó sẽ không làm tung các sợi amiang ra, nhưng trường hợp này, trong thực tế rất khó xảy ra, ví dụ như khi tấm lợp sử dụng lâu dài.
Sự hao mòn và xuống cấp phổ biến của mái lợp xi măng sợi amiăng
Về mặt lý thuyết, trong tấm lợp, vật liệu amiăng được trộn với xi mâng nên được giữ chặt, chúng không gây ra mối đe dọa tương tự như vật liệu dễ vỡ đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên, nếu các tấm lợp này bị vỡ, ăn mòn, bị xáo trộn, hư hỏng, giảm chất lượng hoặc đứt gãy, chúng có thể giải phóng các sợi độc hại vào không khí và trở nên nguy hiểm.
Sự ăn mòn của các sản phẩm có chứa amiăng do thời tiết (mưa, nắng, gió, bão hoặc sương giá, gây ra sự thay đổi lớp xi măng bao quanh sợi amiăng theo thời gian) có thể gây ra sự giải phóng sợi trong vòng 15 năm. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm tăng tác động xói mòn.  Vật liệu lợp mái dễ bị ảnh hưởng nhất, tuy nhiên tất cả các vật liệu xây dựng bên ngoài có thể dễ bị tác động bởi thời tiết và tự nhiên:
·         Sự phát triển của tảo hoặc vi khuẩn lam, do sự xâm nhập của các thành phần dạng sợi vào vật liệu mái có thể làm suy yếu sức đề kháng của nó, làm giảm tuổi thọ của mái: giảm ứng suất cấu trúc, ảnh hưởng của axit nitric trong nước mưa hư hỏng các thành phần của mái. vôi trong vật liệu lợp mái, tăng độ ẩm, hấp thụ nước, v.v.
 
·         Độ bền của lớp phủ amiăng-xi măng giảm đi theo thời gian do gió hoặc thời tiết.
 
·         Việc gẫy vỡ, nứt của vật liệu xi măng amiăng, thường do va đập cơ học do đi lại và do biến động thời tiết,..
Những ngôi nhà lớp mái xi măng amiang được xây dựng ở các khu vực gần biển dễ bị hư hỏng hơn  do muối và gió biển ăn mòn nhanh chóng các tấm lợp có amiăng. Theo thống kê của tổ chức sức khỏe môi trường Châu Âu (EHO) 87% mái amiăng trên các tòa nhà thương mại và gia đình trong các khu vực ven biển ở một số nước Châu Âu chỉ sau 15 năm đã bắt đầu mục và trở nên xơ xác, làm bong tróc các lớp amiang. Các bức tường bên ngoài, mái hiên và hàng rào cũng đã bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Một khi gió bắt đầu làm mòn các lớp bên ngoài của tấm xi măng amiăng, chắc chắn sẽ có bụi amiăng thổi khắp nơi.
Đặc biệt, theo EHO, những nhà có sử dụng amiang khi bị cháy, do cháy không làm thay đổi tính chất hóa học của amiăng, nhưng lại làm hỏng lớp xi măng bao quanh chúng và gió sẽ thổi những sợi amiang phát tán ra xung quanh.
Ô nhiễm đất, nước mặt với vật liệu chứa amiăng xảy ra vì nhiều lý do:
Gió thổi qua các mái nhà lợp xi măng amiang cũ,
Chôn lấp không theo quy trình nghiêm ngặt,
Phá dỡ hoặc di dời không đúng quy trình,
Thiệt hại do giông, bão hoặc ô nhiễm từ các bãi thải amiăng cũ.
Như trên đã nói, hít phải bụi amiăng rất nguy hiểm. Bất kỳ công việc gì được thực hiện với amiăng đều có thể tạo ra bụi amiăng và chúng tôi khuyên rằng cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau để giảm thiểu rủi ro:
·         Lập kế hoạch công việc sao cho vật liệu chứa amiăng được gia công, xử lý ít nhất có thể, nhằm giảm thiểu việc phát tán sợi.
·         Tránh tạo ra bụi từ các tấm lợp xi măng amiăng.
·         Không bao giờ chà nhám hoặc quét lên bề mặt tấm lợp xi măng amiăng bằng bàn chải sắt.
·         Không khoan, cắt, gia công trên các tấm xi măng amiăng.
·         Tránh làm vỡ các tấm xi măng amiăng.
·         Khi loại bỏ các tấm xi măng amiăng, hãy tưới nước làm ướt nó trong suốt thời gian gia công. Sử dụng ống nước thông thường hoặc bình tưới nước cho việc này, không được dùng vòi phun tia nước mạnh (sẽ làm bở tấm lợp và trôi các sợi amiang xuống đất). Thêm chất tẩy rửa vào nước nếu có thể.
·         Nếu có bụi phát sinh trong quá trình tháo dỡ, thi công được, hãy tưới nước vào trước khi quét bụi. Không phủi bụi vì có thể làm phát tán bụi amiăng ra xung quanh nhà và gây nguy hiểm khi sợi amiang khô.
·         Khi làm việc với xi măng amiăng, nênsử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân đúng cách. Kiểm tra xem chúng có phù hợp để sử dụng với amiăng không. Bạn có thể xin lời khuyên từ các trung tâm thiết bị an toàn. Sau khi sử dụng, chúng nên được xử lý bằng chất thải amiăng.
 
Một số điều cần tránh khi nhà vẫn còn vật liệu có chứa amiang chưa thay thế
 
Các tấm xi măng amiăng có thể trở nên rất giòn khi đã sử dụng chúng một thời gian (hiện tượng lão hóa) và chúng có thể vỡ hỏng mà không cần cảnh báo trước.
 
Vì thế cần tránh:
 
·         Đi bộ trên mái nhà lợp xi măng amiang. Đi bộ trên mái nhà lợp xi măng amiang có thể rất nguy hiểm, đặc biệt mái nhà đã qua một thời gian mưa bão. Vì không những dễ vỡ mà chúng có thể rất trơn khi bị ướt và do rêu xanh phủ.
 
·         Nhiều người đã bị thương trên mái nhà lợp xi măng amiang trong khi cố gắng xử lý hoặc sửa chữa bề mặt mái.
 
·         Một số người (bao gồm cả những người làm mái có kinh nghiệm) cho rằng có thể an toàn khi đi dọc theo hàng xà gồ, nơi có vẻ chức chắn hơn, nhưng điều này chắc chắn không đúng vì xà gồ thường là khá hẹp, thường chỉ rộng vài cm.
 
·         Các tấm lợp xi măng amiăng có thể trở nên rất giòn khi chúng già đi và chúng có thể vỡ, hỏng và tung sọi ra mà không có cảnh báo trước .
 
·         Định kỳ chà sạch rêu trên mái xi măng amiăng
 
·         Khi làm sạch và bảo dưỡng mái nhà tấm lợp xi măng amiăng, cần tuân thủ các biện pháp phòng ngừa tương tự như khi loại bỏ amiăng. Tránh các quá trình tạo bụi và làm ẩm bề mặt để giảm thiểu phát sinh bụi.
 
·         Khi làm sạch tấm lợp xi măng amiăng, không sử dụng vòi nước áp lực cao hoặc bàn chải cứng để loại bỏ các mảnh vụn trên bề mặt.Thay vào đó, hãy bôi chất diệt khuẩn (pha loãng với nước) lên bề mặt, sử dụng bàn chải lông mềm không làm hỏng bề mặt, hoặc đơn giản là bôi dung dịch lên toàn bộ bề mặt. Để thời gian khô ít nhất 20 phút sau đó rửa lại bề mặt bằng nước sạch. Để giảm thiểu tình trạng hư hỏng, sự phát triển của địa y,… có thể cân nhắc việc chống thấm hoặc sơn lại bề mặt mái.
 
·         Cần cẩn thận khi vệ sinh máng xối trên mái lợp amiăng xi măng . Có khả năng có cặn của tấm lợp xi măng amiăng trong máng xối và cần thực hiện một số biện pháp phòng ngừa cơ bản khi vệ sinh máng xối.
 
Sống chung với amiang có an toàn không?
Nếu vật liệu amiăng không bở, trong tình trạng tốt và không có nguy cơ bị hư hỏng và bở, thì câu trả lời cho câu hỏi "có an toàn khi sống với amiăng trong nhà không?" là có thể sống chung, nhưng không an toàn.
Về bản chất, sẽ không an toàn khi sống trong một khu nhà có amiăng. Nếu vật liệu amiăng bị bở, chúng cần được loại bỏ và khắc phục ngay. Nếu vật liệu amiăng không bở, chúng sẽ cần được đánh giá và giám sát chặt chẽ, bao bọc an toàn hoặc loại bỏ trước để tránh phơi nhiễm amiăng trong tương lai. Bởi vì nếu bị xáo trộn, điều này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và amiăng có thể bị bay ra và chúng ta có thể hít vào phổi. 
Vì thế, sống trong một ngôi nhà  có chứa amiăng, cần phải rất cẩn thận, vì như trên đã nói chúng rất dòn và dễ vỡ mà điều kiện khí hậu Việt Nam thì rất khắc nghiệt. Ví dụ mùa hè đang nắng như đổ lửa nung nóng tấm lợp (theo NILP, khi nhiệt độ trong bóng râm tháng 7 vào lúc 13h là 380C thì nhiệt độ mái tôn là 720C và mái xi măng là 670C) một cơn mưa bất chợt sẽ làm biến dạng nhiệt độ của mái xi măng amiang và rất dễ gây rạn, nứt
Các sợi xơ có thể tồn tại lâu ngày trong không gian và trên các vật liệu khác, làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Vật liệu amiăng có thể dễ dàng vỡ vụn nếu đã đượcgia công, hoặc đã được cưa, cạo hoặc đánh thành bột, có nhiều khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe.
Nói chung, vật liệu ở tình trạng tốt sẽ khó giải phóng sợi amiăng. Có thể tạm thời  không nguy hiểm .
Khi sống cùng với vật liệu có chứa amiang chưa thay thế được, cần  kiểm tra thường xuyên, tìm các dấu hiệu hao mòn hoặc hư hỏng như rách, trầy xước hoặc hư hỏng do nước. Như trên đã nói, vật liệu bị hư hỏng có thể giải phóng sợi amiăng. Nhất là thường xuyên nó bị va đập, cọ xát hoặc vận chuyển nó, hoặc nếu nó bị rung lắc hoặc khi có giông bão.
Nếu vật liệu amiăng ở trạng thái tốt và không bị xáo trộn thì không cần làm gì! Nếu nó có vấn đề, có hai giải pháp: sửa chữa hoặc loại bỏ.
Nếu vật liệu chứa amiăng bị hư hỏng nhiều hơn mức độ nhẹ, hoặc nếu chuẩn bị sửa chữa nhà mà có thể làm xáo trộn nó, thì cần phải hết sức cẩn thận và tiếp xúc với nó theo đúng các quy định an toàn.
Khi vật liệu chứa amiang bị hư hỏng, cần giữ các hoạt động xung quanh nó ở mức tối thiểu.Thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để tránh làm hỏng vật liệu amiăng.
Các biện pháp khi còn phải sống chung với vật liệu có chứa amiang
-         Sửa chữa: Thường bao gồm việc niêm phong hoặc phủ vật liệu amiăng.
Niêm phong (bao gói) bao gồm việc xử lý vật liệu bằng chất trám bít có thể liên kết các sợi amiăng với nhau hoặc phủ một lớp sơn  lên vật liệu để sợi không bị bung ra. 
Che phủ (bao vây) bao gồm việc đặt một màng chất dẻo hoặc giấy dầu lên trên hoặc xung quanh vật liệu có chứa amiăng để ngăn chặn sự giải phóng các sợi. 
Với bất kỳ loại sửa chữa nào, phải giữ amiăng ở nguyên vị trí. Việc sửa chữa thường rẻ hơn so với loại bỏ, nhưng nó có thể khiến việc loại bỏ amiăng sau này, chắc chắn sẽphải làm, khó khăn hơn và tốn kém hơn. Việc sửa chữa có thể là lớn hoặc nhỏ.
Việc sửa chữa lớn chỉ được thực hiện bởi các đơn vị chuyên dụng nắm được các phương pháp xử lý an toàn amiăng.
Trước khi tiến hành sửa chữa nhỏ, phải đảm bảo tuân theo tất cả các biện pháp phòng ngừa được nêu ở trên. Luôn làm ướt vật liệu amiăng bằng cách sử dụng nước phun sương mịn có chứa vài giọt chất tẩy rửa. Các khu vực có vật liệu cách nhiệt có thể được che phủ bằng cách quấn một loại vải đặc biệt, chẳng hạn như vải thủy tinh có thể uốn lại, xung quanh nó. Các sản phẩm này có sẵn tại các cửa hàng.
-         Loại bỏ, thay thế:
Việc làm này là tốt nhất, đảm bảo an toàn nhất, trong điều kiện kinh tế có thể. Chúng ta nên thay thể các vật liệu có chứa amiang bằng các vật liệu khác, như: Mái tôn, mái vật liệu sọi PVA, các ống thép,...
Tuy nhiên việc tháo dỡ và xử lý các vật liệu có chứa amiang phải hết sức cẩn thận. Khi tháo dỡ, sửa chữa vật liệu có amiang phải thuân theo các yêu cầu cơ bản như sau:
+ Người tiến hành tháo dỡ phải có trình độ phù hợp để thực hiện công việc và làm việc một cách cẩn thận, có trách nhiệm.
  
+ Người tháo dỡ phải được hướng dẫn cẩn thận về các phương pháp làm việc với vật liệu có chứa amiang,
 
+ Người tháo dỡ phải được hướng dẫn đầy đủ để sử dụng thành thạo các phương tiện bảo vệ cá nhân theo đúng yêu cầu.
 
+ Người tháo dỡ phải nhận thức được đầy đủ những rủi ro tiềm ẩn khi làm việc với vật liệu có amiang.
 
Những việc không nên làm với vật liệu chứa amiang còn có trong nhà
  •       Không quét bụi, quét hoặc hút bụi các mảnh vụn có thể chứa amiăng.
  •       Không cưa, cát, cạo hoặc khoan lỗ trên mặt vật liệu amiăng.
  •       Không sử dụng giấy ráp, bàn chải sắt hoặc các vật cứng để loại bỏ các chỗ nhám tren bề mặt vật liệu có  amiăng. Không bao giờ sử dụng bộ gạt điện trên sàn khô.
  •       Không chà nhám hoặc cố làm phẳng sàn bằng amiăng hoặc lớp nền của nó. Khi cần thay thế sàn amiăng, hãy lắp tấm phủ sàn mới lên trên nếu có thể.
  •       Tránh tiếp xúc với các vật liệu amiăng đã bị gẫy, vỡ.
  •       Thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để không làm hỏng bất kỳ vật liệu nào có thể chứa amiăng.
  •        Chỉ thuê các đơn vị được đào tạo để kiểm tra, thử nghiệm, sửa chữa hoặc loại bỏ amiăng.
  •        Nếu có kế hoạch phá dỡ, tốt nhất hãy liên hệ với cơ quan quản lý về an toàn vệ sinh lao động tại địa phương để được tư vâ
Kết luận:
1.     Amiang là một khoáng chất độc hại và nguy hiểm.
2.     Amiăng ở mọi dạng tự nhiên, kể cả amiăng trắng, là chất có hoạt tính gây ung thư đã được chứng minh ở động vật và người, có khả năng gây ung thư phổi, màng bụng, màng phổi, dạ dày và các cơ quan khác tiếp xúc với hạt amiăng.
3.     Tạm thời khi chưa phải thay thế, có thể sống chung với vật liệu có chưa amiang, nếu như nó chưa cũ (trước 15 năm), nhưng phải hết sức thận trọng.
 
4.     Để giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư, nên loại bỏ các vật liệu có chứa amiăng, nếu tạm thời chưa có điều kiện, hãy bảo vệ nó bằng sơn phủ hay lớp màng polyetylen.tránh hư hỏng gây phát tán bụi.
 
5.     Biện pháp tốt nhất, triệt đẻ nhất là nói không với vật liệu có chứa amiang, vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều vật liệu thay thế vừa bền, tốt, không ảnh hưởng đến sức khỏe và giá cả hợp lý.