Tư vấn phản biện

10/08/2020

Ô nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt và lợi ích của điện rác

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội và sự gia tăng dân số không ngừng tại Việt Nam đã khiến cho rác thải sinh hoạt ngày càng tăng, làm cho môi trường sống bị ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì thế quản lý rác thải và tái sử dụng nó là vấn đề cần thiết và cấp bách

I.                  Ô nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội và sự gia tăng dân số không ngừng tại Việt Nam đã khiến cho rác thải sinh hoạt ngày càng tăng, làm cho môi trường sống bị ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

1.1.          Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến nguồn nước: 

     Rác thải sinh hoạt ảnh hưởng rất lớn đến cả nguồn nước mặt và nước ngầm. Rác có thể do người dân đổ trực tiếp hoặc bị cuốn trôi theo nước mưa xuống sông, ao hồ, cống rãnh… Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Lâu dần lượng rác nhiều lên, sẽ làm giảm diện tích ao, hồ giảm khả năng tự làm sạch của nước (do hệ sinh thái trong nước bị hủy diệt), gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước, làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, gây ra các bệnh nguy hiểm.

1.2.          Ảnh hưởng đến môi trường đất: 

Trong thành phần rác thải có chứa nhiều chất độc, khi rác thải được đưa vào môi trường và không được xử lý khoa học thì những chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất, làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay, chúng ta đang sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt hằng ngày. Các túi nilon này cần tới 50-60 năm mới phân hủy trong đất. Do đó, chúng tạo thành các bức tường ngăn cách trong đất, hạn chế quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút.

1.3.          Ảnh hưởng đến cảnh quan: 

Rác thải sinh hoạt vứt bừa bãi, chất đống lộn xộn, không thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý,… để lại những hình ảnh không đẹp, gây mất mỹ quan.

1.4.          Tác động của rác thải đến sức khỏe cộng đồng: 

Trong rác thải sinh hoạt, thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn. Các loại rác hữu cơ dễ phân huỷ gây hôi thối, phát triển vi khuẩn gây hại làm ô nhiễm, mất vệ sinh môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe. Khu tập trung rác là nơi thu hút, phát sinh và phát triển chuột, ruồi, muỗi, gián, các loại vi trùng gây nhiều chứng bệnh truyền nhiễm cho con người, vật nuôi trong gia đình. Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người sống xung quanh. Những người sống gần bãi rác hoặc tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác, dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng, bệnh ngoài da, bệnh phụ khoa… Đặc biệt, các bãi rác công cộng là nguồn mang dịch bệnh. Trong các bãi rác, vi khuẩn thương hàn có thể tồn tại trong 15 ngày, vi khuẩn lỵ tồn tại 40 ngày, trứng giun đũa tồn tại 300 ngày… Các loại vi trùng gây bệnh trong rác thải càng trở nên nguy hiểm khi có các vật chủ trung gian gây bệnh tồn tại trong các bãi rác như những ổ chuột, ổ ruồi, muỗi… Một số bệnh điển hình do các vật chủ trung gian truyền bệnh như: chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắn trùng; ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hoá; muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết…

Để bảo vệ sức khỏe của bản thân, cộng đồng cũng như làm cho môi trường sống không bị ô nhiễm bởi rác thải, mỗi người dân hãy nêu cao ý thức bảo vệ môi trường từ những hành động nhỏ hằng ngày.


Quản lý rác thải, bài toán chưa có lời giải

1.1.          Tình hình ô nhiễm môi trường do rác thải

Ở Việt Nam những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở lên trầm trọng và phổ biến dẫn tới suy thoái môi trường đất, nước, không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn lượng chất thải rắn và nước thải ngày càng gia tăng. Mặc dù số lượng các nhà máy đã xây dựng trạm xử lý chất thải tăng lên trong những năm gần đây nhưng hiện trạng ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện.

Cả nước có rất ít bãi chôn lấp có trạm xử lý nước rác: Trạm xử lý nước rác Nam Sơn (Hà Nội), trạm xử lý nước rác ở đèo Sen, trạm xử lý nước rác Hà Khẩu, trạm xử lý nước rác Quang Hanh (Quảng Ninh)… Theo đánh giá của các chuyên gia thì nhà máy xử lý nước rác Nam Sơn (Hà Nội) và nhà máy xử lý nước rác Gò Cát (TP. HCM) là đạt QCVN 5945 -2005 với hiệu quả xử  lý cao. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại những trạm xử lý chỉ được đầu tư tạm thời và ngay cả những nhà máy xử lý hiện đại cũng đã và đang bộc lộ những bất cập, tồn tại cần giải quyết.

Tuy nhiên ngoài ưu điểm của phương pháp chôn lấp chất thải rắn là xử lý được khối lượng lớn chất thải, chi phí đầu tư và chi phí xử lý nhỏ thì nó còn có nhược điểm đó là nó chiếm nhiều diện tích đất, thời gian phân hủy chậm, gây ô nhiễm khu vực xử lý. Ví dụ như quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ gây mùi, các côn trùng gây bệnh (ruồi, muỗi), gây ra các vụ cháy, nổ, ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng tới giao thông do rơi vãi rác thải khi vận chuyển, đặc biệt là lượng nước rò rỉ từ rác thải. Lượng nước này khi xâm nhập vào môi trường nó sẽ gây tác động xấu đến môi trường xung quanh (đất, nước).

          Theo thống kê của Viện môi trường đô thị và công nghiệp Việt Nam, bình quân mỗi năm cả nước phát sinh thêm khoảng 25.000 tấn rác thải sinh hoạt, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị có xu hướng tăng trung bình từ 10% -16%. Trong đó, tỉ lệ thu gom rác thải tại các đô thị bình quân trên cả nước chỉ đạt khoảng 70%- 85%.

Hiện nay, lượng chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị toàn quốc phát sinh 38.000 tấn mỗi ngày, tỷ lệ thu gom, xử lý hơn 85%. Con số này ở nông thôn là 32.000 tấn mỗi ngày và chỉ thu gom được khoảng 55%.

"Phương án xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu là chôn lấp (70%), trong đó nhiều bãi chôn không hợp vệ sinh khiến người dân sống xung quanh bức xúc. Chưa địa phương nào có mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoàn thiện, đạt tất cả tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường", ông Hiền nói.

Tình trạng này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn khiến Việt Nam không tận dụng, tái chế được các loại rác thải phù hợp.

1.2.          Thực trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Phương pháp xử lý chất thải rắn chính hiện nay của nước ta là chôn lấp, với kỹ thuật đơn giản. Thực tế cho thấy, các phương pháp xử lý rác thải tại nước ngoài áp dụng cho nước ta đều không hiệu quả do đặc thù rác thải chưa được phân loại tại nguồn. Hiện nay lượng rác ở đô thị được đưa đến bãi chôn lấp tập trung chỉ chiếm 60 – 65% , lượng rác còn  lại được vứt ở ao hồ, kênh rạch, ven đường.

Thực tế, tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt có nhiều bước tiến, tuy nhiên vẫn không đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của CTR sinh hoạt.

Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt khu vực nội thành của TP.HCM đạt tỷ lệ 100% (trong đó tỷ lệ trực tiếp từ các hộ dân trong nội thành khoảng 95%, khoảng 5% còn lại các hộ dân không chuyển giao trực tiếp mà để rác dọc theo tuyến đường, các thùng rác công cộng, vớt rác trên kênh. Còn lại khu vực ngoại thành, tỷ lệ thu gom trực tiếp từ các họ dân khoảng 70 – 80%, do khu vực ngoại thành còn nhiều đất trống như ao, vườn, nên một bộ phận không nhỏ người dân khu vực ngoại thành tự xử lý hoặc vứt ra đất trống. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nông thôn còn thấp, trung bình đạt 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tại các đô thị, việc thu gom rác thải sinh hoạt thường do Công ty môi trường đô thị thực hiện.

Cả nước hiện có gần 100 bãi chôn lấp chất thải rắn, tuy nhiên chỉ có 20 bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh có thể gây ra ô nhiễm môi trường đất, không khí và đặc biệt là nước thải rỉ rác từ các bãi chôn lấp. Trong khi ở các nước tiên tiến, với công nghệ kỹ thuật hiện đại, họ xử lý rác thải sinh hoạt bằng cách ủ phân compost, không chỉ giải quyết được vấn đề rác thải mà còn đem lại lợi ích kinh tế. Hiện  nay, việc khống chế mùi hôi tại các bãi chôn lấp được thực hiện bằng việc phun các chế phẩm sinh học và được thực hiện thủ công, điều này có thể gây nguy hiểm cho công nhân.

Ở nước ta, phương pháp đốt thường được ứng dụng trong xử lý rác thải nguy hại, chủ yếu là chất thải y tế.  CTR sinh hoạt thường chứa độ ẩm cao do đó phương pháp đốt không hiệu quả. Mặt khác, việc đầu tư một lò đốt công nghiệp thường yêu cầu kinh phí khá lớn. Công nghệ đốt nếu vận hành không đúng kỹ thuật sẽ sinh ra các chất làm ô nhiễm không khí, do đó cũng cần có hệ thống xử lý khí thải khi áp dụng phương pháp đột.

Phương pháp sản xuất phân hữu không phổ biến và chỉ giải quyết được một lượng nhỏ rác thải sinh hoạt. Việc đầu tư dây chuyền công nghệ để sản xuất phân hữu cơ cũng khá tốn kém. Mặt khác, việc sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa được phổ biến rộng rãi, vì thế nguồn cung không lớn. Nếu phân hữu cơ không có ưu điểm vượt trội thì rất khó cạnh tranh với các loại phân bón truyền thống.

Trước tình hình này, vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý rác thải phù hợp là một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhà khoa học, các cấp chính quyền. Làm thế nào để lựa chọn được phương pháp xử lý phù hợp với tính chất rác thải cũng như điều kiện kinh tế nước ta đang là một câu hỏi khó.

1.3.          Quản lý và thu gom chất thải rắn ở một số nước tiên tiến

Ở nhiều quốc gia Châu Âu và một số nước tiên tiến Châu Á đã quản lý chất thải rắn thông qua hoạt động phân loại nguồn, mang lại hiệu quả xử lý cao, đem lại lợi ích cao về kinh tế và môi trường. Tại các nước như Đan Mạch, Anh, Hà Lan, Đức… việc phân loại rác thải tại nguồn được quản lý chặt chẽ và nền nếp.

Đối với các chất rắn tái chế được như thủy tinh, giấy, bao bì hộp…được thu gom vào các thùng chứa riêng biệt. Với các thải hữu cơ như thực phẩm thừa, rau củ…được phân loại trong những túi hoặc thùng riêng biệt để đưa đến các nhà máy sản xuất phân compost. Thông thường, rác thải từng loại được chứa trong các thùng riêng biệt với màu sắc khác nhau để dễ phân biệt. Đơn cử như Singapore là đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới. Để có được như vậy, chính phủ nước này đã quản lý chặt chẽ công tác thu gom và xử lý chất thải rắn, ban hành pháp luật nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý tốt hơn. Nhìn chung, chiến lược xử lý CTR sinh hoạt của các nước tiên tiến là hạn chế chôn lấp, xử lý theo hướng tái chế, tái sử dụng, tiết kiệm năng lượng, phát triển công nghiệp tái chế chất th

II.             Xu thế và lợi ích của việc đốt rác thải phát điện

          Là một nước đang phát triển, trong thời đại toàn cầu hóa và phát triển công nghệ vượt bậc trên thế giới hiện nay, Việt Nam muốn tiến đến phát triển bền vững thì không thể chỉ chú trọng phát triển kinh tế, mà còn phải tính đến các giải pháp an sinh và BVMT.

Vài năm gần đây, công tác quả chất thải rắn tại Việt Nam đang gặp phải không ít những khó khăn khi lượng chất thải nói chung và chất thải nguy hại phát sinh ngày càng nhiều về lượng và đa dạng về loại. Phương pháp chủ yếu để xử lý chất thải rắn vẫn là chôn lấp, một giải pháp chẳng những lãng phí tài nguyên đất, “tàì nguyên” rác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước mặt, nước ngầm, đất và không khí ở khu vực bãi rác .

Hiện nay trên thế giới công nghệ đốt chất thải đã ngày càng được áp dụng rộng rãi do có một số ưu điểm nổi bật so với các công nghệ khác như có thể giảm được 90-95% thể tích và khối lượng chất thải, có thể tận dụng nhiệt, tiết kiệm được diện tích so với biện pháp chôn lấp, giảm thiểu ô nhiễm nước, mùi hôi, giảm phát thải khí nhà kính so với biện pháp chôn lấp ... .Tại Việt Nam, vấn đề đốt chất thải cũng đang được quan tâm do khối lượng chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, chất thải sinh hoạt ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó biện pháp xử lý rác đang tồn tại (chôn lấp) ngày càng biểu hiện các nhược điểm rất khó giải quyết.


Nhà máy điện rác thải Cần Thơ

2.1.Tình hình phát sinh chất thải rắn không nguy hại:

- Chất thải rắn sinh hoạt đô thị, nông thôn: Năm 2018 dân số đô thị là 39 triệu người chiếm 38% dân số cả nước, ước tính đến năm nay 2020 là 44 triệu người chiếm 45% dân số cả nước và năm 2025 là 52 triệu người chiếm 50% dân số cả nước. Chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam vào khoảng 19 triệu tấn/năm, trong đó Chất thải rắn sinh hoạt đô thị ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm.

- Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại: Ước tính hàng năm - Chất thải rắn công nghiệp thông thường phát sinh khoảng 6,88 triệu tấn/năm, trong đó - chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp khoảng 3,2 triệu tấn. Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiệp sẽ tăng lên từ 6-7,5 triệu tấn vào năm 2015 tới  9,0-13,5 triệu tấn vào năm 2020.

- Chất thải trồng trọt : Hằng năm Việt Nam phát sinh khoảng 60-150 triệu tấn sinh khối nông nghiệp, trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhu cầu năng lượng. Tổng khối lượng phế thải từ rơm rạ và vỏ trấu tại Việt Nam đạt khoảng 65,9 triệu tấn, tổng lượng phế thải từ cây ngô là 4,5 triệu tấn, tổng lượng phế thải từ cây mía là 2,8 triệu tấn.

- Chất thải phân gia súc, gia cầm: Trong lĩnh vực chăn nuôi, hiện cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ có chuồng trại quy mô hộ gia đình và khoảng 18 nghìn trang trại chăn nuôi tập trung, trong đó số chuồng trại hợp vệ sinh chỉ chiếm khoảng 10%. Tổng khối lượng chất thải từ hoạt động chăn nuôi khoảng 232,4 triệu tấn; trong đó bò đóng góp 39.12%; lợn đóng góp 29.64%; trâu đóng góp 25.09%.

- Chất thải nuôi trồng, chế biến thủy sản: Nuôi trồng thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long chiếm trên 70% của toàn quốc, sản lượng trên 2 triệu tấn/năm, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4 tỷ đô la /năm. Lượng chất thải hữu cơ do thức ăn thừa thải ra khoảng trên 2 triệu tấn/năm.

 Hiện nay, công nghệ đốt chất thải đang được các quốc gia quan tâm vì nó thể hiện được những ưu điểm vượt bậc so với phương pháp chôn lấp trước đây. Không chỉ quan tâm đến công nghệ xử lý chất thải, việc thu hồi năng lượng từ nguồn thải Tình hình đốt chất thải kết hợp phát điện tại một số quốc gia:

Trên thế giới có khoảng 1.000 lò đốt phát điện; trong đó châu Âu chiếm 38%, Nhật Bản chiếm 24%, Mỹ chiếm 19%, khu vực Đông Á chiếm 15%...

2.2.Xu hướng công nghệ đốt chất thải kết hợp phát điện trên thế giới.

Xử lý rác thải chủ yếu có 3 phương thức: chôn lấp, ủ phân và đốt phát điện. So sánh ba phương thức, nhận thấy phương pháp đốt thải phát điện vô hại, ưu thế về giảm ô nhiễm môi trường, do đó phương thức này trở thành lựa chọn hàng đầu của các nước có nguồn đất đai và năng lượng hạn hẹp. Tại Tây Âu và Nhật Bản, rác thải sinh hoạt đô thị cơ bản được xử lý bằng phương thức đốt. Tại Trung Quốc, phương hướng chủ đạo trong phát triển ngành công nghiệp xử lý rác thải sinh hoạt là chuyển từ chôn lấp sang đốt phát điện.

2.2.1. Ở Bắc Mỹ: Với sự gia tăng số lượng các bãi chôn lấp, giảm giá chôn lấp, giảm giá điện thì công nghệ đốt chất thải phát điện không thể cạnh tranh giá thành với công nghệ chôn lấp. Để khuyến khích công nghệ đốt chất thải phát điện các quốc gia đã áp dụng các chính sách thuế ưu đãi. Chính phủ Mỹ đã bãi bỏ các khoản thuế cho các nhà máy đốt chất thải phát điện từ năm 2004.

2.2.2. Ở Châu Âu: Ở châu Âu, với các lệnh cấm chôn lấp chất thải không qua xử lý, các lò đốt rác đã được xây dựng nhiều hơn trong thập kỷ qua. Gần đây, một số chính quyền thành phố đã bắt đầu quá trình ký kết hợp đồng cho việc xây dựng và hoạt động của lò đốt CTR. Tại châu Âu, điện tạo ra từ chất thải được coi là từ một nguồn năng lượng tái tạo (RES) và do đó đủ điều kiện cho các khoản ưu đãi thuế nếu tư nhân điều hành. Ngoài ra, một số lò đốt ở châu Âu được trang bị thu hồi chất thải, cho phép tái sử dụng các vật liệu kim loại màu được tìm thấy trong các bãi chôn lấp.

2.2.3. Ở Trung Quốc: Đốt rác phát điện trở thành xu thế mới tại Trung Quốc. Do nền kinh tế phát triển nhanh chóng và tốc độ đô thị hóa cao, mỗi năm Trung Quốc thải ra 250 triệu tấn rác. Rác thải sinh hoạt một mặt đang tạo áp lực rất lớn đối với môi trường và sự phát triển của đô thị, mặt khác lại là nguồn tài nguyên đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Việc khai thác để biến rác thải trở thành kho báu cũng trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của ngành công nghiệp bảo vệ môi trường. Công tác xử lý đốt rác thải đô thị của Trung Quốc phát triển khá nhanh, khả năng xử lý đốt rác thải của năm 2011 tăng gấp 33 lần so với năm 2000, đạt 940 tấn/ngày. Đến cuối năm 2016, có 162 nhà máy đốt rác thải sinh hoạt phát điện đã được xây dựng và đưa vào vận hành hoạt động, tổng quy mô xử lý là 154 nghìn tấn, tổng công suất lắp đặt khoảng 3.600 MW. Hiện tại, số lượng hệ thống thiêu đốt rác thải mới xây tại Trung Quốc đã chiếm hơn một nửa của thế giới. Đến năm 2025, khả năng thiêu đốt rác thải phát điện trên toàn Trung Quốc có thể đạt 510 nghìn tấn/ngày.

2.2.4.Đốt chất thải kết hợp phát điện tại Singapore

Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn, vì vậy khoảng 56% khối lượng rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) được quay lại các nhà máy để tái chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào 04 nhà máy đốt rác thải phát điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore.

2.3. Ở Việt Nam

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương, tại Việt Nam bình quân mỗi ngày có khoảng 35.000 tấn rác thải sinh hoạt đô thị và 34.000 tấn rác thải sinh hoạt nông thôn, riêng thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày thải ra 7.000-8.000 tấn rác. Lượng rác hiện nay chưa được sử dụng triệt để biến thành nguồn năng lượng phục vụ cuộc sống. Khoảng 85% lượng rác thải hiện nay tại Việt Nam đang được xử lý chủ yếu bằng công nghệ chôn lấp đòi hỏi nhiều quỹ đất, trong đó còn nhiều bãi chôn lấp chưa hợp vệ sinh, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường, chưa tận dụng được hiệu quả nguồn năng lượng sinh ra. Công tác vận chuyển còn gặp nhiều khó khăn do các bãi chôn lấp chất thải thường ở xa khu dân cư, làm tăng chi phí vận chuyển. Trong khi đó, mức phí vệ sinh môi trường thu từ các hộ gia đình hiện mới chỉ chi trả được một phần cho hoạt động thu gom chất thải, không đủ để chi trả cũng như duy trì cho hoạt động vận chuyển.

Với lượng rác thải trên, tiềm năng rác thải có thể sản xuất thành điện ở Việt Nam là rất lớn. Việc chuyển đổi chất thải rắn thành năng lượng đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, như cung cấp thêm nguồn năng lượng sạch và có giá trị hợp lý, góp phần giảm tình trạng ô nhiễm rác thải rắn, bảo vệ môi trường. Công nghệ đốt chất thải có thể giảm được 90-95% thể tích và khối lượng chất thải, có thể tận dụng nhiệt, tiết kiệm được diện tích so với biện pháp chôn lấp, giảm thiểu ô nhiễm nước, mùi hôi, giảm phát thải khí nhà kính so với biện pháp chôn lấp...

Hiện nay, đã phát triển nhiều dự án như: Nhà máy điện đốt rác VIETSTAR hiện đại nhất Việt Nam ở Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đốt 2.000 tấn rác thải sinh hoạt/ngày, công suất phát điện 40MW; Nhà máy đốt rác phát điện lớn nhất Đông Nam Á tại Sóc Sơn đốt 4.000 tấn rác thải sinh hoạt/ngày, công suất phát điện 75MW, đã khởi công xây dựng tháng 8/2019; Nhà máy đốt rác phát điện Phú Thọ đốt 1.000 tấn rác thải sinh hoạt/ngày, công suất phát điện 18MW...các nhà máy điện rác Thanh Hóa, điện rác Thái Bình, điện rác Hải Phòng, Nhà máy xử lý chất thải công nghiệp và y tế Thái Nguyên.

          Tính đến nam 2019, Việt Nam có 9,03 MW điện năng từ rác thải đô thi. Trong qui hoạch điện VIII mà Thử tướng đã phê duyệt (QĐ 2068/2019/TTg) thì tỷ lệ CTR đô thị cho các mục tiêu năng lượng dự kiến sẽ tăng lên 30% vafpf năm 2030 và hầu hết CTR sẽ được sử dụng để sản xuất năng lượng vào năm 2050.

Tuy nhiên, điều khó khăn là chúng ta phải làm tốt công tác phân loại rác thải, bởi vì nhiệt trị của rác thải dùng để phát điện phải là 110 kcal/kg trở lên (tối ưu là 1200kcal/kg), nhưng nhiệt trị rác thải ở bãi rác Nam Sơn chỉ cho 900kcal/kg. Vì thế nahf máy điện rác Nedo tại Nam Sơn chỉ đốt được 75 tấn rác thải/ngày và chỉ cho 1930kW điện.

2.4. Kết luận

Hiện nay trên thế giới công nghệ đốt chất thải phát điện đã và đang ngày càng được áp dụng rộng rãi do có một số ưu điểm nổi bật so với các công nghệ khác như có thể giảm được 90-95% thể tích và khối lượng chất thải, có thể tận dụng nhiệt, tiết kiệm được diện tích so với biện pháp chôn lấp, giảm thiểu ônhiễm nước, mùi hôi so với biện pháp chôn lấp, giảm phát thải khí nhà kính ... .

Tại Việt Nam, vấn đề đốt chất thải phát điện cũng bắt đầu được quan tâm do khối lượng chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, chất thải sinh hoạt ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó biện pháp xử lý rác đang tồn tại (chôn lấp) ngày càng thể hiện các nhược điểm rất khó giải quyết.

Đốt rác phát điện sẽ trở thành xu thế mới tại Việt Nam. Do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao, khối lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều, thì chất thải rắn một mặt đang tạo áp lực rất lớn đối với môi trường và sự phát triển kinh tế xã hội, mặt khác chất thải rắn lại là nguồn tài nguyên tái tạo đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Việc khai thác để biến chất thải rắn trở thành nguồn tài nguyên quý giá cũng trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của ngành công nghiệp môi trường Việt Nam, phù hợp với Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn được Chính phủ ban hành.

Trương Thị Yến Nhi